Liên kết website

Nên hiểu thế nào cho đúng về khái niệm đình công?

Điều 172 BLLĐ (đã sửa đổi, bổ sung năm 2006) nêu: “Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết tranh chấp lao động tập thể”.

Như vậy, về cơ bản, khái niệm về đình công được BLLĐ nêu ra đã thể hiện được những dấu hiệu, đặc điểm cấu thành của hành vi đình công. Quan niệm về đình công như BLLĐ là “khá mở”, cho nên hiện nay trong việc hiểu về khái niệm và thực hiện pháp luật lao động về đình công cũng còn nhiều vấn đề tranh cãi.

Trong những hiện tượng có biểu hiện tương tự như đình công có lãn công, bãi công và phản ứng tập thể, ngừng việc tạm thời của tập thể người lao động. Chúng ta có thể phân biệt giữa đình công với các hiện tượng đó là:

* Phân biệt đình công với lãn công

Hiện có hai quan điểm:

– Quan điểm thứ nhất cho rằng, lãn công (người lao động không rời khỏi nơi làm việc nhưng không làm việc hoặc làm việc cầm chừng, lơ là, “lười biếng”) là biểu hiện ra bên ngoài của ngừng việc tập thể, đình công. Ví dụ, pháp luật của một số nước như Philipin ghi nhận: Đình công không chỉ bao gồm sự ngừng việc có phối hợp mà gồm cả lãn công, nghỉ việc hàng loạt, bãi công ngồi, có ý đồ hủy hoại hoặc tiêu hủy, phá hoại thiết bị, cơ sở kinh doanh và các hoạt động tương tự (Điều 226a BLLĐ Philipin).

– Quan điểm thứ hai cho rằng, lãn công không phải là đình công vì nó là sự ngừng việc không hoàn toàn, không triệt để của một số người lao động nhằm phản đối người sử dụng lao động về các vấn đề lao động. Nó không làm ngừng hẳn hoạt động lao động mà chỉ là không tuân thủ nghĩa vụ lao động và như vậy là hành vi vi phạm kỷ luật lao động (ví dụ như: Pháp, Nga, Thái Lan...).

Theo chúng tôi, coi lãn công không phải là một dạng của đình công là quan niệm có cơ sở. Bởi lẽ, lãn công phải được coi là việc người lao động không thực hiện tốt nghĩa vụ lao động, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ lao động đã cam kết – đó là hành vi vi phạm, là có lỗi trong thực hiện hợp đồng lao động đã cam kết. Như vậy, đình công là quyền của người lao động nhưng lãn công không phải là quyền của người lao động. Hành vi lãn công có thể bị xem xét kỷ luật.

* Đình công và bãi công

Trong tác phẩm "Bàn về bãi công", Lênin đã nêu: “Bãi công chính là sự phản kháng của người lao động khi bị giai cấp tư sản bóc lột tàn nhẫn hoặc bị sa thải, bãi công là cuộc đấu tranh của nhiều người lao động để mặc cả với bọn chủ về tiền công bằng cách đập phá máy móc, phá các công xưởng, dần dần dẫn đến cuộc đấu tranh toàn diện của giai cấp công nhân để tự giải phóng mình”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Bãi công kinh tế, chính trị, là sự ngừng bộ phận hay toàn bộ quá trình sản xuất dịch vụ do tập thể những người lao động đồng tâm, hiệp lực cùng nhau tiến hành, là một biện pháp đấu tranh của người lao động, viên chức chống lại chủ nhà máy, hầm mỏ, đồn điền... các nhà tư bản và Chính phủ để đòi thực hiện những yêu sách về kinh tế, nghề nghiệp và nhiều khi cả yêu sách chính trị”.

Như vậy, nhìn chung, đây là hai hành vi tương đồng và được sử dụng tương đương. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người ta thường chỉ những cuộc đình công có diện rộng, đình công của nhiều doanh nghiệp, nhiều giới lao động trong một quốc gia gọi là bãi công.

*Đình công và đơn phương chấm dứt quan hệ lao động

Ngừng việc trong đình công khác với việc chấm dứt quan hệ lao động. Đình công chỉ là việc những người lao động tạm thời không thực hiện nghĩa vụ lao động với mục đích gây thiệt hại với chủ thể để tạo ra sức ép về kinh tế. Những người lao động khi đình công không nhằm mục đích chấm dứt quan hệ lao động và luôn sẵn sàng trở lại làm việc nếu được chấp nhận các yêu sách về quyền và lợi ích. Vì vậy, đình công biểu hiện ra bên ngoài là hành vi ngừng việc tạm thời (tạm ngưng quan hệ lao động), không phải là hành vi đơn phương chấm dứt quan hệ lao động (bỏ việc vĩnh viễn).

*Đình công và phản ứng tập thể/ngừng việc tạm thời của tập thể người lao động trong doanh nghiệp.

Ta có thể hiểu, ngừng việc tạm thời chỉ là một biểu hiện của phản ứng tập thể – là thái độ của một tập thể người lao động phản ứng lại với người sử dụng lao động về những vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động. Nó có nhiều mức độ khác nhau như: phản kháng tại chỗ; phát sinh thành tranh chấp; lời nói, ứng xử có tính chất phản kháng; phát sinh thành những hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, sức khỏe người sử dụng lao động, người quản lý doanh nghiệp; đập phá máy móc... Về mặt mục đích, phản ứng tập thể cũng muốn gây sức ép về kinh tế/dư luận... với người sử dụng lao động. Nếu hiểu theo nghĩa này, rõ ràng trong những hình thức phản ứng tập thể có những hành vi đình công. Tuy nhiên, xem xét dưới góc độ là một phản ứng/phản kháng tức thời, có tính chất bất ngờ của những người lao động đối với người sử dụng lao động khi người này có hành vi vi phạm pháp luật đối với tập thể lao động thì phản ứng tập thể khác với đình công ở các dấu hiệu sau:

+ Không nhất thiết biểu hiện dưới dạng ngừng việc tập thể.

+ Là hành vi có tính tức thời, bộc phát, không có sự chuẩn bị trước và do đó tính tổ chức gần như không có.

+ Nguyên nhân phát sinh phản ứng tập thể là do hành vi vi phạm pháp luật hay không thực hiện những thỏa thuận trước đó của người sử dụng lao động.

+ Gần như không có mục đích đòi hỏi những lợi ích, điều kiện lao động cao hơn. Nếu có thì phát sinh mang tính ngoài dự tính của những người lao động.

Có thể coi phản ứng tập thể hoặc một trong những biểu hiện cụ thể của nó như: ngừng việc tạm thời, những xô xát có tính tức thời giữa hai bên... không có đầy đủ dấu hiệu của hành vi đình công. Chỉ có thể hiểu, đây là trường hợp người sử dụng lao động đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động được quy định trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hay những cam kết, thỏa thuận, lời hứa đã công bố... (ví dụ trả lương không đúng hạn, trả tiền thưởng tết ít hoặc chậm hơn so với công bố của doanh nghiệp,...). Như vậy, đã có sự vi phạm thỏa thuận, vi phạm “hợp đồng”, không thực hiện đúng đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng lao động cho nên như vậy người lao động cũng có quyền “tạm ngừng” việc thực hiện nghĩa vụ của mình cho đến khi người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết.

Trên cơ sở phân biệt giữa đình công và phản ứng tập thể, từ thực trạng các cuộc đình công ở Việt Nam thời gian qua, có cơ sở để khẳng định rằng: phản ứng tập thể hoặc ngừng việc tạm thời của tập thể người lao động trong doanh nghiệp không có đầy đủ những dấu hiệu của hành vi đình công. Và dĩ nhiên, cần có sự đối xử và có những quy định trình tự, thủ tục không giống như một cuộc đình công.

Viện Công nhân – Công đoàn vừa hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tổng Liên đoàn: “Nghiên cứu về đình công ở Việt Nam và đề xuất giải pháp của Công đoàn”, Mã số 207/01/TLĐ. Nghiên cứu đã đưa ra khái niệm đình công như sau:

Đình công là hiện tượng ngừng việc hoàn toàn (ngừng việc triệt để), tự nguyện, có tổ chức của tập thể người lao động, thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về kinh tế đối với người sử dụng lao động, nhằm buộc người sử dụng lao động hay một chủ thể khác phải thỏa mãn những yêu sách gắn với lợi ích của tập thể người lao động.

Theo chúng tôi, khái niệm này đã bao quát được tất cả những thuộc tính phổ biến nhất của mọi trường hợp đình công phát sinh và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, có thể vận dụng để nhận dạng đình công trong thực tiễn, cũng như phân biệt đình công với các hiện tượng tương tự khác. Tuy nhiên, trong thực tế, việc giữ nguyên khái niệm trên hay thu hẹp khái niệm đình công cũng còn phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Ví dụ: dưới góc độ kinh tế – xã hội, để nhận dạng đình công, có thể vận dụng khái niệm nói trên một cách đầy đủ, nhưng dưới góc độ pháp lý, để thu hẹp phạm vi của quyền đình công, gắn đình công với các quyền kinh tế – xã hội thuần túy của người lao động, đình công có thể chỉ được định nghĩa là hành vi ngừng việc nhằm phản ứng với người sử dụng lao động trực tiếp và nhằm đạt các lợi ích có tính nghề nghiệp