Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Thanh Hóa
Trang chủ   /   Pháp luật, chính sách KT-XH   /   05 khoản bồi thường thiệt hại mà doanh nghiệp và người lao động cần biết
05 khoản bồi thường thiệt hại mà doanh nghiệp và người lao động cần biết
Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động (HĐLĐ), giữa doanh nghiệp và người lao động (NLĐ) có thể sẽ phát sinh một số trách nhiệm bồi thường như bồi thường khi chấm dứt HĐLĐ trái luật, bồi thường do làm hư hỏng tài sản của công ty, bồi thường khi NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…Doanh nghiệp và Người lao động cần biết những trường hợp mà mình phải bồi thường để tránh, giảm mức độ thiệt hại cho mình. Cụ thể như sau:

1. Bồi thường thiệt hại do người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật.

Theo quy định tại Điều 37; 41 và 43 Bộ luật lao động 2012; Điều 49 Luật việc làm 2013, trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật thì NLĐ sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp và phải bồi thường cho doanh nghiệp các khoản sau:

- Nửa tháng tiền lương theo HĐLĐ;

- Bồi thường cho doanh nghiệp một khoản tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước (đối với trường hợp có vi phạm về thời hạn báo trước);

- Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho doanh nghiệp (nếu có).

Ảnh minh họa.

2. Bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật ( Điều 42 Bộ luật lao động năm 2012)

- Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

-Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

- Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

- Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Bồi thường thiệt hại do người lao động làm hư hỏng tài sản của công ty (Điều 130 Bộ luật Lao động năm 2012)

- Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định.

Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng (khoản 3 Điều 101 của Bộ luật Lao động năm 2012) không được quá 30% tiền lương hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập.

- Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm;

- Trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường

4. Bồi thường chi phí đào tạo khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động

Như đã đề cập ở phần 1, khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì phải hoàn trả chi phí đào tạo cho doanh nghiệp. Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.

Khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ đúng luật thì việc có phải bồi thường hay không phụ thuộc vào cam kết mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng đào tạo. Nếu trong hợp đồng đào tạo quy định trong mọi trường hợp chấm dứt HĐLĐ đều phải bồi thường chi phí đào tạo, thì NLĐ sẽ phải bồi thường chi phí đào tạo theo cam kết mặc dù chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật.

5. Bồi thường khi người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Doanh nghiệp phải có trách nhiệm khi NLĐ của mình bị tai nạn lao động hoặc bị bệnh nghề nghiệp.

Đặc biệt, trong trường hợp NLĐ có kết luận mức suy giảm từ 5% trở lên, doanh nghiệp phải thực hiện bồi thường hoặc trợ cấp cho NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo mức suy giảm khả năng lao động tương ứng quy định tại Điều 38 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.

                                                                                       Phạm Ngọc Điệp- Chủ tịch CĐ Ngành Công Thương (Tổng hợp).

Các tin liên quan

  • Trang thông tin điện tử Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hóa
  • Giấy phép số 14/GP-TTĐT do Cục QL Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 17/01/2011
  • Địa chỉ: Số 37 - Đại lộ Lê Lợi - Tp. Thanh Hóa
  • Điện thoại: 02373.852.369 ; Fax: 02373.852.369; Email: congdoanthanhhoa@thanhhoa.gov.vn
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa